Chiều ngày 28 tháng 5, tại Khách sạn Ninh Kiều Riverside, thành phố Cần Thơ, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn phối hợp với Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) tổ chức Hội thảo tổng kết Dự án Sáng kiến Tài chính ro khí hậu cho nông nghiệp tại Việt Nam (AgriCRF-VN).

Sự kiện ghi nhận tham gia của các đại biểu đại diện từ cơ quan quản lý nhà nước, đối tác thuộc khu vực tư nhân, các tổ chức tài chính chính, hợp tác xã cùng đại diện các hộ nông dân. Đây là hoạt động nhằm tổng kết các kết quả sau hai năm phát triển sáng kiến trúc Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức (BMZ) tài trợ, thuộc sở hữu dự án khu vực ASEAN – Đức được thực hiện đồng thời tại Việt Nam, Indonesia và Thái Lan.
Tại hội nghị, các đại biểu, các chuyên gia và nhà khoa học đã tập trung phân tích dữ liệu thực nghiệm, thảo luận về định hướng chính sách và các công cụ tài chính hỗ trợ nông nghiệp ứng phó với rủi ro ro thiên tai.
Thực tiễn khai triển và các kết quả thực tế từ các mô hình thí nghiệm
Theo số liệu từ báo cáo của ban tổ chức dự án, sau hai năm thực hiện, các chỉ tiêu cốt lõi cốt lõi của AgriCRF-VN đều đạt được kết quả tích cực nên với mục tiêu ban đầu trên cả ba trụ cột có thể thiết cụ thể. Đối với lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp, dự án đã phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm ABIC, MIC, MSIG và PVI để thử nghiệm các sản phẩm bảo hiểm nguy hiểm thiệt hại và bảo hiểm chỉ số tiết tiết cho cây lúa. Thông qua mạng lưới hợp tác xã tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, mô hình đã tiếp cận 1.539 ha diện tích cánh tác tại An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ. Hệ thống này đã vận hành cơ chế chi trả bồi thường cho 69 hộ dân chịu ảnh hưởng từ hiện tượng ngập lụt và cố gắng tiết lộ trong năm 2025. Kết quả khảo sát từ ban tổ chức cho thấy, 84% số nông dân được hỏi cho biết có ý định tiếp tục tham gia và 69% có xu hướng giới thiệu giải pháp giải pháp này cho người khác.

Về mảng tín dụng xanh, dự án hợp tác mô cùng Tổ chức năng tài chính vi TYM thiết kế gói vay hạn mức lên tới 100 triệu đồng mỗi hộ gia đình, áp dụng mức ưu đãi cho các mô hình sản phẩm sản xuất áp dụng phương pháp bền vững, gắn thiết bị như mặt trời và xử lý chất lượng cấp tốc. Đến nay, hơn 32 tỷ đồng đã được giải ngân đến 882 hộ gia đình. Trong phần này, công cụ xếp hạng tín dụng số hợp nhất trên ứng dụng di động của TYM đã được đưa vào sử dụng, xử lý trên 100.000 hồ sơ vay vốn và phát triển khai thực tế tại 13 tỉnh thành. Báo cáo của ban tổ chức cũng chỉ ra một đặc điểm trong kế hoạch của AgriCRF-VN là việc lồng mảnh yếu tố vào các hoạt động thực địa, xuất phát từ vai trò của phụ nữ trong quản lý kinh tế hộ gia đình tại khu vực nông nghiệp. Theo đó, toàn bộ 882 hộ gia đình tiếp cận nguồn tín dụng xanh từ dự án đều đứng do phụ nữ tên đại diện. Bên cạnh đó, tỷ lệ nữ giới tham gia đội ngũ học viên nguồn đạt 66,7% và tỷ lệ lao động nữ được tiếp cận các khóa đào tạo năng lực tài chính chính sử dụng 32%, đáp ứng mục tiêu tiêu chuẩn tối thiểu 30% có thể đạt được khi xây dựng dự án.

Hỗ trợ người dân tiếp cận các công cụ tài chính chính, hoạt động nâng cao năng lực được thực hiện thông qua bộ tài liệu huấn luyện bao gồm bảy mô-đun, bao gồm các nội dung về quản lý tài chính gia đình, quản trị kinh doanh nông nghiệp, quản lý rủi ro, bảo hiểm và dịch vụ tài chính chính. Dự án đã đào tạo được 258 học viên nguồn và thông qua đội ngũ ngũ này để phổ biến kiến thức cho 7.775 nông dân tại năm tỉnh thành phố, vượt qua chỉ tiêu đầu tiên là 4.000 người. Khảo sát dữ liệu từ tổ chức ghi nhận 98% người học đã thay đổi công thức nhận dạng đối với hậu khí khí rủi ro và 68% đã áp dụng các công cụ giảm thiểu giải pháp trong quá trình sản xuất.
Bước chuyển tiếp duy nhất và định hướng hoàn thiện cơ chế chính sách
Tại hội thảo, các chuyên gia và nhà khoa học đồng tình rằng, thực hiện từ dự án phản ánh một bước chuyển quan trọng trong ngành nông nghiệp Việt Nam, đó là chuyển từ tư duy nhận hỗ trợ sau thiên tài sang chủ quản trị rủi ro tài chính chính. Việc áp dụng các giải pháp này không chỉ đơn giản là bù đắp thiệt hại kinh tế trước mắt mà còn đưa ra phần thúc đẩy người dân áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác bền vững, từ đó minh bạch hóa chuỗi giá trị nông sản và bảo vệ sinh kế lâu dài. Nhiều ý kiến thảo luận khẳng định, để các mô hình bảo hiểm và tài chính hậu cần thực sự phát huy hiệu quả trên diện rộng, các sản phẩm cần được nghiên cứu và thiết kế khảo sát với địa phương thực tế. Quá trình phát triển Yêu cầu phân phối hợp lý, đồng bộ giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân, đi kèm với công việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và cung cấp mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý dữ liệu.
Hội thảo thu hút sự quan tâm của đông đảo các chuyên gia và các chủ thể sản xuất nông nghiệp của các tỉnh thành phố khai Dự án.

Đánh giá tác động của các mô hình đối với tư duy quản lý, ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn , nhận định kết quả của dự án không chỉ nằm ở những số hay sản phẩm cụ thể, mà là sự chuyển biến trong nhận thức và cách tiếp cận của tất cả các bên liên quan để quản lý rủi ro khí hậu trong nông nghiệp. Nếu trước đây, nhiều nơi vẫn còn chủ yếu dựa vào các giải pháp hỗ trợ sau thiên tai, thì nay nhận thức được công thức đang tăng dần thay đổi theo hướng chủ động hơn: nông dân hiểu biết hơn vai trò của bảo hiểm nông nghiệp và tín dụng xanh; doanh nghiệp và các tổ chức tài chính có cơ sở mạnh mẽ hơn để thiết kế các sản phẩm phù hợp hơn; và cơ sở quản lý có thêm thông tin, bằng chứng thực tế để hỗ trợ xây dựng chính sách.
Từ thu thập dữ liệu qua quá trình thí nghiệm, dự án đã tổng hợp thành ba văn bản báo cáo chuyên sâu bao gồm: báo cáo đánh giá giá thực tế các mô hình bảo hiểm nông nghiệp; báo cáo phân tích so sánh kinh nghiệm quốc tế từ các quốc gia Thái Lan, Indonesia, Nhật Bản, Trung Quốc, Philippines; và văn bản trình bày chính sách phát triển dự án bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2026–2030. Tài liệu này cung cấp thêm thông tin thực tế cho các cơ sở chức năng trong quá trình nghiên cứu, sửa đổi Nghị định 58 về bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam.

Tại thảo luận bàn tròn trong khuôn khổ hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học và các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến trúc môn học nhằm tìm kiếm giải pháp duy trì và nhân rộng kết quả của dự án vào các chuỗi giá trị nông nghiệp. Bà Sonja Esche, Trưởng phòng Nông nghiệp và Khí hậu của GIZ Việt Nam, biết công việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính chính có nguy cơ hậu khí đóng vai trò hỗ trợ nông nghiệp chủ động hơn khi đầu tư vào sản phẩm bền chắc.
Theo thông tin cập nhật từ tiến độ thực tế, sản phẩm tín dụng xanh do dự án xây dựng hợp nhất đã được tổ chức chức năng mở rộng ứng dụng chủ động này tại 9 tỉnh với 22 chi nhánh ngoài phạm vi cấm đầu dự án. Điều này cho thấy khả năng thích ứng và vận hành ổn định của mô hình theo cơ chế thị trường nhằm giảm thiểu thất bại do biến đổi khí hậu gây ra trong giai đoạn hiện nay.


